Một khi việc cho, mua bán hoặc ủy quyền quản lý tài sản mà tài sản đó là nhà đất thì người đứng tên tài sản cần phải nắm rõ ràng và đầy đủ tất cả những thủ tục cũng như hiểu đúng về những quyền đã giao.
Dưới đây là câu chuyện đau lòng giữa ba cha con nhà nọ ( Chuyện có thật tại một gia đình ở Phú Nhuân, TP Hồ Chí Minh).

Vợ chồng ông A và bà B có 2 đứa con, đứa con trai lơn tên L, đứa con trai nhỏ tên M. Vào năm 2005 vợ ông A mất ( Bà B mất) Để tạo điều kiện cho đứa con lớn trong việc kinh doanh, ông A và M đã lập giấy thỏa thuận đồng ý để L quản lý căn nhà mặt phố, 1 trệt 1 lầu.
Sau đó, L nói muốn quản lý được phải làm hợp đồng tặng cho nhà. Ông A đã đồng ý vì nghĩ đơn giản con giữ nhà giùm mình. Nhưng sau đó, L đã đuổi tôi và đứa em ra khỏi nhà.
Xét về mặt tình cảm thì anh L hoàn toàn sai vì tài sản này của ba mẹ anh để lại và người cha tạo điều kiện cho anh làm ăn nên để tài sản là nhà mặt phố cho anh quản lý. Tuy nhiên, anh đã lừa cha và em trai mình để hợp pháp hóa căn nhà đó và đuổi cả cha lẫn em trai ra khỏi nhà. Tuy nhiên, xét về mặt pháp lý, anh L lại có quyền làm vậy vì hiện tại anh là người đứng tên sở hữu căn nhà đó chứ không phải chỉ là người có quyền quản lý nữa.
Qua câu chuyện trên ta thấy rõ một điều rằng: Những giao dịch dân sự cần phải được kiếm tra kỹ đặc biệt là người chủ tài sản cần hiểu rõ mọi quyền hạn và quyền, nghĩ vụ của mình đối với tài sản cũng như hiểu rõ nội dung chính thức của bản hợp đồng được giao dịch dân sự.
Mổ xẻ câu chuyệ đau lòng trên: Ban đầu, ông A và người con thứ hai (M) làm giấy thỏa thuận để cho người con lớn (L) quản lý nhà thì L chỉ có quyền quản lý. Nhưng khi ông lập hợp đồng tặng cho nhà tức là đã chuyển quyền sở hữu của mình cho L, vì vậy L có toàn quyền quyết định căn nhà này.
Việc quản lý nhà và sở hữu nhà là hoàn toàn khác nhau. Có thể L đã cố ý để cho ông và người con thứ hai (M) hiểu sai lệch về việc quản lý nhà và chủ sở hữu nhà. Ông mất quyền sở hữu và người con thứ hai cũng mất quyền thừa kế nhà do bị lừa dối.
Căn cứ vào Điều 132 Bộ Luật Dân sự 2005: “Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”.
Do đó, ông A và người con thứ hai (M ) có thể làm đơn khởi kiện, yêu cầu tòa án hủy hợp đồng tặng cho nhà do bị lừa dối.
Sau những thực tại đau lòng ấy, hẳn nhiều người sẽ ngộ ra nhiều điều và cẩn thận hơn với những hợp đồng dân sự kiểu mập mờ mà bản thân chưa hiểu hết nội dung của hợp đồng.
Chia sẻ bài viết:
Copyright © 2017 VRM.JSC. All Right Reserved.