Tin thị trường

Người gốc Việt có được chuyển nhượng căn hộ từ doanh nghiệp?

Cập nhật ngày 05-12-18 lúc 09:19

Người Việt sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu người Việt đó đủ điều kiện sở hữu nhà ở là điều đương nhiên và được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, có một số trường hợp người gốc Việt vẫn không được sở hữu nhà ở như bình thường.

Trường hợp của chị Mỹ Trinh dưới đây là một trường hợp điển hình. Chị Mỹ Trinh là người nước ngoài có nguồn gốc Việt Nam (có giấy khai sinh tại Việt Nam). Hiện chị muốn mua lại một căn hộ chung cư tại Việt Nam từ một doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (là doanh nghiệp nhận chuyển nhượng lại một lô căn hộ từ chủ đầu tư) thông qua hình thức ký văn bản chuyển nhượng (hợp đồng mua bán căn hộ với doanh nghiệp này).

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp trên chuyển văn bản chuyển nhượng và hồ sơ của chị cho chủ đầu tư để được xác nhận thì bị từ chối. Chủ đầu tư giải thích do là vì pháp lý về người gốc Việt được sở hữu căn hộ tại Việt Nam chưa rõ ràng, chỉ được mua chứ không được nhận chuyển nhượng căn hộ lại từ doanh nghiệp.

Vậy, trường hợp của chị Mỹ Trinh có được nhận chuyển nhượng căn hộ từ doanh nghiệp hay không, nếu được cần phải có những thủ tục gì?

Tại Điều 7 Luật Nhà ở 2014 có nêu quy định các đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, trong đó có đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài và đối tượng là tổ chức, cá nhân nước ngoài (theo quy định tại Khoản 1, Điều 159 Luật Nhà ở).

Khoản 3, Điều 5 Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ cũng quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nhà ở. Theo đó, với cá nhân nước ngoài có giấy tờ xác nhận gốc Việt Nam, nếu muốn xác định quyền sở hữu nhà ở thì chỉ được quyền lựa chọn một đối tượng áp dụng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài.

Về giấy tờ chứng minh đối tượng được sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, bà Trinh có thể tham khảo quy định tại Khoản 2, Điều 5 Nghị định 99/2015/NĐ-CP.

Để biết về quyền của chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, chị Trinh có thể tham khảo quy định tại Điều 10 Luật Nhà ở 2014. Còn quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định tại Điều 161 Luật Nhà ở 2014.

Từ các khúc mắc của Đặng Hoài Mỹ Trinh, Bộ Xây dựng đề nghị bà đối chiếu trường hợp cụ thể của mình với quy định của pháp luật nêu trên và các quy định của pháp luật có liên quan để thực hiện.

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân, trong đó có tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong quá trình thực hiện, nếu bà Trình có vướng mắc liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận, mời bà liên hệ với Bộ Tài nguyên và Môi trường để được hướng dẫn, giải quyết theo thẩm quyền.

Lê Thủy ( Tổng hợp)

Chia sẻ bài viết:


Copyright © 2017 VRM.JSC. All Right Reserved.

   Liên hệ qua Facebook